Report

Tạo sự hấp dẫn cho năng lượng sinh khối trong ngành mía đường ở Việt Nam

At a Glance

Publication Date March 2019
Format pdf
Country Viet Nam
Thematic Area Sustainable Energy

Công cuộc cải cách kinh kế ấn tượng của Việt Nam trong hai thập kỷ qua đã song hành cùng với sự tăng
mạnh về nhu cầu năng lượng. Chiến lược của Chính phủ Việt Nam (CPVN) là đảm bảo sự tăng trưởng
kinh tế bền vững trong tương lai. Do vậy, mặc dù còn khiêm tốn, Quy hoạch điện 7 sửa đổi1 (PDP7) đã
đặt ra các mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo bao gồm năng lượng mặt trời, năng lượng gió và năng
lượng sinh khối. Năng lượng sinh khối được đặt mục tiêu đạt 2,1% tổng sản lượng điện vào năm 2030.
Báo cáo chuyên sâu này phân tích sự đóng góp tiềm năng của năng lượng sinh khối vào sự phát triển
của ngành điện ở Việt Nam, với trọng tâm là ngành công nghiệp mía đường. Sản xuất điện trong ngành
công nghiệp này đòi hỏi sử dụng đơn nhiên liệu (chỉ dùng bã mía) hoặc đa nhiên liệu (bã mía và các loại
sinh khối khác như gỗ dăm và trấu). Báo cáo này xem xét những thách thức và cơ hội trong việc mở rộng
phát triển các dự án sản xuất điện từ bã mía ở Việt Nam thông qua các nghiên cứu tiền khả thi (NCTKT)
do GGGI và GIZ đồng thực hiện đối với năm nhà máy đường ở Việt Nam. Dựa trên phân tích này, báo
cáo đưa ra những vấn đề cần cân nhắc trong việc nâng cao khả năng vay vốn của các dự án năng lượng
sinh khối.

Do phần phân tích chính của báo cáo này được thực hiện trên cơ sở năm NCTKT cùng với các số liệu
thu thập được từ Hiệp hội Mía đường Việt Nam và Danh bạ ngành Mía đường ở Việt Nam, nên các phát
hiện chỉ giới hạn ở những giả thiết được đưa ra trong năm NCTKT được nêu chi tiết trong phần Phụ lục
và phụ thuộc nhiều vào độ chính xác của những số liệu hiện có.
Báo cáo này dành cho những nhà hoạch định chính sách, các nhà máy đường, các nhà phát triển dự án,
các định chế tài chính, các hiệp hội có liên quan (như Hiệp hội Mía đường, Năng lượng sạch, v.v.), các tổ
chức trong nước và quốc tế có quan tâm đến sự phát triển của ngành năng lượng tái tạo của Việt Nam
và công chúng nói chung.
Báo cáo này cũng như năm NCTKT là cơ sở để phân tích đều do GGGI và GIZ đồng tài trợ và thực hiện.